Thứ Năm, 25 tháng 4, 2013





Chiều nằm đó man mác buồn Chương Thiện

Đường về xa lặng lẽ bóng mây mờ

Hoàng nhạt nắng màu hôn chiều tím biếc

Lúa đồng đồng từng hạt ngọc mồ hôi

Áo bà ba đâu ai còn mặc nữa

Đượm thắm tình mái tóc xõa ngang vai







Sông ngã bảy bao nhiêu dòng thương nhớ

Ai chèo xuồng í ới.....bẹo đưng đưa

Trong nhớ thương có bao nhiêu thương nhớ

Chút luyến lưu....nỗi lòng sao lưu luyến

Loanh quanh mãi bước chân đời phiêu bạt

Chợt dừng chân say đắm tình Hậu Giang

Chương Thiện 25-04-2013


Thứ Tư, 24 tháng 4, 2013


Màu chung thủy
Ai đã hỏi em yêu màu gì nhất!
Em cười buồn, yêu màu tím thủy chung
Những chiều về nhuộm màu sắc nhớ nhung
Tím khoảng trời, hoa bằng lăng mùa hạ.

Thời gian ơi xin hãy dừng lại đã
Để màu thương không phai nhạt bao giờ
Dù một chiều tôi đứng đó ngẩn ngơ
Cũng không mất phút giây êm đềm nhất.

Kỷ niệm xưa phủ tâm hồn ngây ngất
Gió vô tình làm buốt lạnh đôi vai
Màu hoa kia sẽ đến lúc tàn phai
Bay chấp chới trong chiều hoang cô lẻ.

Hoa bằng lăng một thời tôi san sẻ
Cho một người yêu màu tím thủy chung
Tình yêu ơi đã hứa trọn đến cùng
Mà dang dở cho màu hoa phai sắc. (không rõ tác giả)

Tình cờ mình đọc được trên nét bài thơ hay nên gợi hứng xin đáp lại
Mưa về vội bằng lăng rơi cánh mỏng
Gió thoảng đùa lất phất khẽ trôi đưa
Màu hoa tím âm thầm tình thương nhớ
Thoáng ru buồn kí ức màu thủy chung
Ngày xa cách bằng lăng màu chợt tím
Tím buồn màu nhớ lệ rơi nhòa
Ai có biết ta vẫn yêu màu hoa ấy
Chút tình buồn lặng lẽ tím bằng lăng.
Chương thiện 24-04-2013 (tặng Jordan Eva)

Thứ Sáu, 19 tháng 4, 2013

Hôm về Cà Mau có ghé thăm nhà người bạn. Ngay vùng sông nước, nhà gợp bóng xanh, trước nhà có giàn tigon. Tôi khen hoa đẹp và lẩm nhẩm

Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời ,Ái ân lạt lẽo của chồng tôi, Mà từng thu chết, từng thu chết,Vẫn giấu trong tim bóng một người. Rồi cười xuề nhìn bà chủ nhà (Vợ bạn tôi),

- Ngoài thằng Nguyễn ra, An còn giấu ai nữa....

- Giấu cái vô duyên của ông hay đốt nhà người ta đó
 Tôi nhận lại câu trả lời khó chịu, cả bọn cười rôm rả. Chuyện từ Hoa Tigon, ở căn gác nhà thờ của tôi cũng có 1 day, tôi đi không ai chăm sóc. Mỗi năm tôi về thì trơ trụi vì bị cào cào ăn hết lá, khẳng khiu, chỉ vài nụ hoa nhấp nhiu như chào tôi về. Ngầy còn đi học, nghe ông thầy dạy văn đọc bài này, nghe da diết thảm thê. Ông thầy rất ư vô duyên nhưng thơ thì tuyệt cú mèo, mỗi khi nghe là đứa nào đứa ấy im thinh há hốc mồm nghe. Tôi có đọc qua quyển Nhật kí Hoa Tigon (quên tên tgia rồi) hồi kí về kháng chiến Pháp - Mĩ của một gia đình Hà Nội (quyển này tôi gửi cho Huyền Trân người em cùng lớp đọc, mà vẫn chưa nhận lại), Chuyện kể về anh chiến sĩ Bình và cô quân y tên Thoa, ngay ngày giải phóng thì Thoa kết thúc cuộc đời bằng chính viên đạn nhầm lẫn của Bình....Sự ngậm ngùi khi gấp lại trang sách.
Có lẻ mọi người yêu văn thơ và yêu hoa tigon từ bài thơ Hai sắc hoa tigon của T.T.KH và chuyện tình của họ. Nỗi đau ầm thầm nhớ thương của một người con gái đã có chồng. Hoài niệm về tình yêu chìm ngắm với săc hoa tigon tàn khi mùa đông sang,... trong hồi ức tôi có đọc 1 trang của Nhà văn Nguyễn Vỹ (hiện đang ở hải ngoại) xin chia sẻ cùng các bạn:

Hai sắc hoa tigon và sự thực về T.T.K.H




Ngày xưa và đến bây giờ vẫn vậy.tôi rất thích bài thơ này. Bài thơ là nỗi niềm cuả một người phụ nữ đã có chồng. Tôi đã từng yêu, từng cảm nhận được sự mong manh dễ vỡ của nó. Tôi cũng từng đau khổ, xót xa... Và ván đã đóng thuyền thì tất cả chỉ  còn là trong kỉ niệm, thế nên " Tôi sợ chiều thu phớt nắng mờ..."

          Đọc bài thơ tôi thấy rất hay và cũng bởi nhà tôi có một giàn tigôn  hồng nên tôi thấy rõ" hoa dáng như tim vỡ" . Mỗi độ đầu hè hoa nở laị rực hồng một khoảng sân . tôi lại nhặt những cánh hơa rơi cho vào lòng bàn tay xót xa: đẹp thế này sao hoa nỡ rụng ? Những cánh hoa nhỏ bé mong manh, dịu dàng như những trái tim đang khát khao yêu thương rồi lại đau khổ vì yêu. Càng nắng hoa nở càng nhiều, tôi vẫn thường hái hoa cắm lọ. Điều tôi rất nhớ là mỗi dịp sinh nhật tôi, vì vào mùa hạ nên bao giờ cũng có một lọ hoa tigon dễ thương để bàn.

         Yêu hoa, yêu thơ nhưng thực sự tác giả bài thơ thì mãi sau này tôi mới tìm thấy tư liệu, xin chép lại đây để cho những ai yêu bài thơ này cùng đọc.

Bây giờ nhà tôi không còn giàn hoa này nữa, nếu sau này tôi có nhà riêng chắc chắn tôi sẽ lại trồng một giàn hoa tigon ở sân.

Hai Sắc Hoa Tigôn 

T.T.K.H.
 












Một mùa thu trước mỗi hoàng hôn
Nhặt cánh hoa rơi chẳng thấy buồn
Nhuộm ánh nắng tà qua mái tóc 
Tôi chờ người đến với yêu đương

Người ấy thường hay ngắm lạnh lùng
Dải đường xa vút bóng chiều phong,
Và phương trời thẳm mờ sương, cát
Tay vít dây hoa trắng chạnh lòng

Người ấy thuờng hay vuốt tóc tôi
Thở dài trong lúc thấy tôi vui
Bảo rằng: "Hoa, dáng như tim vỡ
Anh sợ tình ta cũng vỡ thôi!"

Thuở ấy nào tôi đã biết gì
Cánh hoa tan tác của sinh ly
Cho nên cười đáp: "Màu hoa trắng,
Là chút lòng trong chẳng biến suy!"

Đâu biết một đi một lỡ làng,
Dưới trời đau khổ chết yêu đương
Người xa xăm quá! Tồi buồn lắm,
Trong một ngày vui pháo nhuộm đường...

Từ đấy, thu rồi, thu lại thu..
Lòng tôi còn giá đến bao giờ
Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ
Người ấy, cho nên vẫn hững hờ

Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời
Ái ân lạt lẽo của chồng tôi,
Mà từng thu chết, từng thu chết
Vẫn giấu trong tim bóng một người

Buồn quá! Hôm nay xem tiểu thuyết
Thấy ai cũng ví cánh hoa xưa
Sắc hồng tựa trái tim tan vỡ
Và đỏ như màu máu thắm pha!

Tôi nhớ lời người đã bảo tôi
Một muà thu trước rất xa xôi..
Đến nay tôi hiểu thì tôi đã
Làm lỡ tình duyên cũ mất rồi!

Tôi sợ chiều thu nhạt nắng mờ
Chiều thu ,hoa đỏ rụng chiều thu
Gió về lạnh lẽo chân mây vắng
Người ấy sang sông đứng ngóng đò.

Nếu biết rằng ,tôi đã lấy chồng
Trời ơi! Người ấy có buồn không
Có thầm nghĩ tới loài hoa vỡ
Tựa trái tim phai, tựa máu hồng.
                      
                                                                                                           
-Nguyễn Vỹ-

Năm 1936-37 xuất hiện ở phố Chợ Hôm, ngoại ô Hà Nội, một nhóm văn sĩ trẻ với bút hiệu Trần Huyền Trân, Thâm Tâm và một vài người khác nữa. Ít ai để ý đến họ. Có lẽ vì họ là những người còn quá trẻ: Huyền Trân và Thâm Tâm mới 18, 19 tuổi, mới bắt đầu viết văn, chưa có gì đặc sắc. Lớp văn sĩ đi trước không chú ý đến họ. Nhưng họ dễ thương, vui vẻ, hồn nhiên, an phận ở một vị trí khiêm tốn, chẳng thân với ai, cũng chẳng làm phiền lòng ai. Họ sống một thế giới riêng của họ, không chung đụng với những nhóm đã nổi tiếng ít nhiều trong làng văn, làng báo lúc bấy giờ. 

Họ có một tờ tuần báo nhỏ, lấy tên Bắc Hà ở phố Chợ Hôm, nơi đây họ làm văn nghệ với nhau, theo lối tài tử hơn chuyên nghiệp. Tờ báo bán không chạy lắm tuy có vài mục hài hước vui nhờ mấy bức vẽ của Tuấn Trình và nhiều cố gắng hứa hẹn trên bình diện văn chương. Hăng hái nhất và đóng vai chủ động trong tờ báo là Trần Huyền Trân. Thâm Tâm, biệt hiệu của Tuấn Trình, vẽ nhiều hơn viết, thỉnh thoảng đăng một vài bài thơ, vài mẩu chuyện ngắn. Đôi khi thấy xuất hiện trên mặt báo vài ba bài thơ có tính cách ca dao ái tình của Nguyễn Bính, học sinh lớp Nhất, trường tiểu học Hà Đông. Nguyễn Bính sau thi rớt, nghỉ học luôn. 

Tuy không chơi thân, tôi quen biết Trần Huyền Trân khá nhiều, vì anh ta ở trọ một căn nhà trong ngõ Khâm Thiên, gần Ô Chợ Dừa. Thường đi một con đường nên chúng tôi gặp nhau và quen nhau. Đôi khi Trần Huyền Trân nhờ tôi viết bài cho tuần báo “cho vui” vì không có tiền nhuận bút. Để tỏ tình thông cảm văn nghệ, tôi có viết một truyện ngắn khôi hài và chỉ có một lần. Trong một số báo đặc biệt mùa hè, Tuấn Trình vẽ một cặp Bạch Nga bơi trên Hồ Hoàn Kiếm và ghi ở dưới: Nguyễn Vỹ và Mộng Sơn. 

Tôi quen biết Tuấn Trình  do Trần Huyền Trân giới thiệu. Nhà anh ở Chợ Hôm, cách chợ độ ba bốn trăm thước. Anh đẹp trai, y phục lúc nào cũng bảnh bao, người có phong độ hào hoa, lịch thiệp. Tôi thấy ở Sài Gòn có anh Hoàng Trúc Ly, nhà văn, giống na ná Tuấn Trình về dáng điệu cũng như tính tình, tư cách. Nhiều khi gặp Hoàng Trúc Ly trên đường Bonard Sài-Gòn, tôi quên lửng, cứ tưởng gặp Tuấn Trình trên phố Chợ Hôm, Hà Nội. 

Một buổi chiều gần tối. Tuấn Trình đi lang thang gần chợ Khâm Thiên. Tôi từ Hà Nội về nhà, tưởng anh ta đến Trần Huyền Trân, nhưng anh bảo:”Thằng Huyền Trân nó đi đâu, không có nhà”. Tôi rủ anh về gác trọ của tôi ở cuối phố. Hôm ấy tôi có vài chục bạc trong túi, có thể làm một tiệc bánh giò chả lụa với Tuấn Trình. Tôi bảo anh ở lại ngủ với tôi cho vui. Đêm ấy cao hứng, Tuấn Trình ngà ngà say rượu Văn-Điển, kể chuyện tình của anh với cô Khánh cho tôi nghe.


Trần Thị Khánh là một cô học trò lớp Nhất trường Tiểu học Sinh-Từ. Thi hỏng, cô ở nhà giúp mẹ làm việc nội trợ. Nhà cô cũng ở đường Sinh-Từ, ngay cạnh Thanh-Giám, nơi đền thờ Khổng Tử. Thanh – Giám là một thắng cảnh Hà-Nội, đã liệt vào cổ tích Việt Nam, xây cất từ đời nhà Lý, tu bổ dưới đời nhà Lê, hình chữ nhất, chung quanh xây tường đá ong, cao độ hai thước. Đền thờ ở trong cùng, trước đền có Hồ Tròn, hai bên hồ dựng nhiều tấm bia ghi tên các tiến sĩ đời nhà Lê. Vào Thanh-Giám, có cổng Tam Quan lớn, trước cổng có tấm bia đề hai chữ Hán: “Hạ Mã”, và hai trụ cao. Trong vườn trồng rất nhiều cây cổ thụ và các cây kiểng. Nơi đây rất yên tĩnh và mát mẻ, cũng là nơi các cặp trai gái hẹn hò tâm sự. Trước kia có một bầy quạ chiều tối bay về ngủ, cho nên người Pháp gọi là “Pagode des Corbeaux” (Chùa Quạ) ngoài danh từ lịch sử “Temple de Confucius” (Đền Khổng Tử).

Cô nữ sinh Trần Thị Khánh là một thiếu nữ đẹp, nét đẹp mơm mởm của cô gái dậy thì, thùy mị, nết na, nhưng không có gì đặc biệt. Tuấn Trình có người cô, nhà ở phố chợ Cửa Nam, gần Sinh-Từ. Anh thường đến đây và thấy cô Khánh đi chợ mỗi buổi sáng. Lúc ấy vào khoảng tháng 2 năm 1936, họa sĩ Tuấn Trình (tên gọi hồi đó) mới 19 tuổi, và cô Khánh 17 tuổi, thi rớt Tiểu học và đã nghỉ học từ mùa hè năm trước. Tuấn Trình mới bắt đầu vẽ và viết chút ít trong tờ tuần báo Bắc Hà của Trần Huyền Trân vừa xuất bản. 

Sau một vài tháng theo dõi, Tuấn Trình làm quen được với cô Khánh và gởi báo Bắc Hà tặng cô. Cô gái 17 tuổi, cảm mến người nghệ sĩ tài hoa, tình yêu chớm nở như cành hoa Antigone trắng vừa chớm nở trong tháng đầu hè trước sân nhà cô. Antigone là loại hoa của người Pháp đem qua hồi đầu thế kỷ, không thơm nhưng đẹp. Nó thuộc loại hoa dây, lá giống lá nho, cho nên ở miền Nam, nhiều người gọi là hoa nho. Nó có hai loại, loại hoa trắng và hoa hồng. Hoa nở vào đầu mùa hè, thành những chùm rất dễ thương, nụ hoa giống hình trái tim nho nhỏ. Ở Hà-Nội người ta trồng rất nhiều và bán rất nhiều trong chợ Đồng Xuân, cũng như ở chợ Hoa, bờ hồ Hoàn Kiếm. Cắm nó vào lọ để phòng khách, nó buông ra một vẻ đẹp lãng mạn, khả ái lắm. Người Bắc gọi tắt hoa Ti-Gôn. Ở phố Sinh Từ Antigone mọc rất nhiều, như trước sân nhà ông Nguyễn Văn Vĩnh và Nguyễn Nhược Pháp. Nhà trọ của Lưu Trọng Lư và Lê Tràng Kiều ở phố Nam Long có cả một giàn hoa trắng và hồng. Nhưng mùa đông lá rụng hoa tàn, thì không cảnh nào tiêu sơ quạnh quẽ bằng. 

Tình yêu của Tuấn Trình và Trần Thị Khánh chớm nở ngay lúc những chùm Antigone vừa hé nụ, và chết trong những ngày giữa mùa Đông năm đó, trong lúc giàn hoa Ti-gôn úa tàn, rụng ngập đầy sân. Thời kỳ mơ mộng ngắn ngủi trong mấy tháng Hè, sang hết mùa Thu, không đem lại chút thỏa mãn nào cho tâm hồn khao khát của Tuấn Trình. Chính lúc này Tuấn Trình lấy bút hiệu Thâm Tâm và cho cô Khánh biết: Hình ảnh của em, anh ghi sâu vào thâm tâm anh. Trong bài Màu Máu Ti-Gôn, cũng có câu: ...Quên làm sao được thuở ban đầu – Một cánh ti gôn Dạ khắc Sâu.

Một vài bài thơ tình thức đêm làm tặng Khánh, những bài thơ đầu tiên đăng trên tuần báo Bắc Hà, đều ký Thâm Tâm, các tranh vẽ trong báo vẫn ký Tuấn Trình. Nhưng cô gái 17 tuổi, dè dặt theo lễ giáo nghiêm khắc của gia đình, chưa thật bao giờ đáp ứng với tình yêu tha thiết của Tuấn Trình – Thâm Tâm. Đó là điều đau khổ triền miên của chàng nghệ sĩ 19 tuổi. Trong lúc những cặp tình nhân trẻ trung dắt nhau đi du ngoạn khắp nơi thơ mộng ở Hà-Nội và ngoại ô: Hồ Tây, chùa Láng, Bạch Mai, Phúc Trang, Đền Voi Phục...thì Trần Thị Khánh cứ phải từ chối những lời mời của Thâm Tâm. Cô thường nói: “Thầy mẹ em nghiêm, gia đình em nghiêm lắm...”Lần nào cô Khánh cũng lặp lại chữ nghiêm gia giáo ấy để trả lời kỳ vọng khát khao của người yêu. 

Chỉ được hai lần Khánh đến nơi hẹn, nhưng không được lâu. Lần thứ nhất, một đêm trăng, Khánh lén băng qua đường, vào vườn Thanh-Giám. Tuấn Trình đã chờ người yêu nơi đây, dưới bóng cổ thụ. Nhưng cô Khánh run cả người (theo lời Tuấn Trình kể lại) cậu cũng lính quýnh, tất cả những câu bay bướm cậu sắp sẵn để nói với nàng, bấy giờ cậu quên mất hết. Một lúc lâu Tuấn Trình mới nói được mấy lời tình tứ, nhưng lại trách móc, nghi ngờ, nàng không yêu mình. Nàng bảo:”Em không yêu anh sao dám ra đây gặp anh? Nhưng vì thầy me em nghiêm lắm, anh ạ.” Tuấn Trình hỏi chua chát: “Giờ phút này chỉ có thơ và mộng, chỉ có anh với em, ánh trăng đẹp của hai đứa mình có nghiêm không nhỉ?”. Có lẽ vì bất bình câu nói mỉa mai của người yêu, Khánh lặng yên một phút rồi đáp:”Ánh trăng đẹp, nhưng vẫn nghiêm đấy, anh ạ”. Cuộc gặp đêm ấy, chỉ lâu không đầy một tiếng đồng hồ. Tuấn Trình đặt một chiếc hôn âu yếm trên bàn tay của Khánh trước lúc nàng vội vã chạy về nhà. 

Lần thứ hai, hai cô cậu cũng gặp nhau trong vườn Thanh (nhiều người sau này nói Thanh là Thanh Hóa, là hoàn toàn sai sự thật). Vườn Thanh-Giám đêm ấy cũng ngập ánh trăng Thu. Nhưng thái độ của Khánh lạ lùng khó hiểu. Hình như Khánh muốn nói với Tuấn Trình một điều gì, nhưng ngại ngùng không nói. Chàng lặng lẽ vuốt mái tóc huyền của Khánh rồi khẽ bảo: Ước gì anh được yêu em như thế này mãi...Nàng buồn bã hỏi:”Anh định bao giờ đến xin thầy me cho chúng mình...” Chàng họa sĩ bối rối trước câu hỏi bất ngờ. Chàng lơ đễnh bảo: “Anh chưa nghĩ đến việc ấy, vì...” Câu chuyện bị bỏ dở nơi đây. Khánh không hỏi gì hơn nữa. Chàng nắm tay nàng đi dạo quanh hồ nước xanh rì lăn tăn gợn sóng, chàng dừng lại, khẽ kéo Khánh vào lòng, nhưng nàng khẽ buông ra, Tuấn Trình âu yếm nhìn nàng:”Em!” Khánh mải cười:”Anh bảo gì?”. 

-Hình ảnh của em, nụ cười của em, sẽ mãi mãi ghi sâu vào lòng dạ của anh, vào thâm tâm anh.

Trần Thị Khánh bẽn lẽn cười như để tạ ơn và xin từ giã. Tuấn Trình trằn trọc suốt đêm. Khánh muốn giấu chàng một điều gì quan trọng chăng? Tình yêu giữa hai người vẫn nguyên vẹn, thư từ qua lại vẫn âu yếm, nhưng Tuấn Trình bắt đầu thấy lòng buồn bã băn khoăn khi giàn hoa Ti-gôn bắt đầu héo rụng trong nắng úa tàn thu. Thế rồi một hôm, chàng họa sĩ đa tình nhận được một bức thư của người yêu, không, của người hết yêu, báo tin nàng sắp lấy chồng. 

Thư viết bằng mực tím, trên bốn trang giấy học trò, xé trong một quyển vở Nam Phương hoàng hậu (loại vở học trò rất thông dụng lúc bấy giờ). Thư do một cô bạn gái của Khánh đem đến tòa báo Bắc Hà trao tận tay Tuấn Trình. Cô bạn gái hỏi “ông Tuấn Trình” chứ không gọi Thâm Tâm. Ngoài bao thư cũng đề: Monsieur Tuấn Trình (chữ Mr. bằng tiếng Pháp), nét chữ quen thuộc của T.T. Khánh. Đại khái, Khánh nhắc lại tình yêu “thơ mộng” của cô với “người nghệ sĩ tài hoa son trẻ” (những chữ cô dùng trong thư), tình yêu rất đẹp, nhưng vì thầy me của cô rất nghiêm, theo lễ giáo, nên dù người vị hôn phu của cô là một người chỉ mới biết sơ thôi, nhưng cô vẫn có bổn phận “giữ tròn chữ hiếu, không dám cãi lời thầy me đặt đâu ngồi đấy v.v...”Cô nói cô buồn lắm vì tình yêu dang dở, “Em yêu anh mãi mãi! Không bao giờ quên anh, nhưng ‘van’ anh đừng giận em, thương hại em, chứ đừng trách móc em v.v...” Cô than thở đời cô khổ nên tình duyên ngang trái, cô khóc suốt đêm v.v...

Khánh không nói một câu nào về người vị hôn phu, không cho biết ngày cưới, và cuối thư ký tắt: K.H. Bức thư của K.H chấm dứt một cách đột ngột cuộc tình duyên thật sự không mấy “thơ mộng” của họa sĩ Tuấn Trình và cô Trần Thị Khánh. 

Sau do sự dọ hỏi vài người quen ở phố Sinh-Từ, Tuấn Trình được biết chồng cô Khánh là một nhà buôn giàu có ở phố Hàng Ngang, 39 tuổi, góa vợ và không có con. Trong câu thơ:”Bên cạnh chồng Nghiêm luống tuổi rồi “ chỉ sự cách biệt tương đối giữa tuổi 39 của người chồng với tuổi hãy còn vị thành niên của cô Khánh. Đó chỉ là nhận xét chủ quan và mỉa mai của Thâm Tâm, so sánh tuổi mình 20 với người đàn ông được diễm phúc làm chồng cô Khánh, nhưng trên thực tế và theo lời những người hàng xóm ở phố Sinh Từ nói với Tuấn Trình thì người chồng cô Khánh “giàu sang và trẻ đẹp” chứ không phải một ông già. Tuấn Trình cũng nhìn nhận rằng một người nhà giàu 40 tuổi, đẹp trai, không thể là một ông già. 

Đám cưới đã nhờ mối lái qua lại từ lâu, và đồ sính lễ có kiềng vàng, xuyến, nhẫn, vòng, kim cương, quần áo hàng lụa quí giá. Rước dâu bằng mười chiếc Citroen mới, cô dâu đeo nữ trang rực rỡ, mặc chiếc áo cưới màu đỏ tươi, lộng lẫy ngồi trên xe hoa như nàng công chúa ngồi cạnh người chồng mặc áo gấm xanh. Đêm trước hôm cô Khánh lên xe hoa, Thâm Tâm có tổ chức tại tòa báo Bắc Hà một tiệc thịt chó, uống Mai Quế Lộ, mời Trần Huyền Trân, Nguyễn Bính và Vũ Trọng Can tham dự. Họ say sưa, ngâm thơ, làm thơ, cười đùa cho đến khuya rồi lăn ra ngủ trên đất.
Người đau khổ trong cuộc tình duyên dang dở này không phải là cô Khánh. Trái lại, cô có đầy đủ hạnh phúc với người chồng rất chiều chuộng cô. Trần Huyền Trân đã gặp cô đi hí hởn với chồng vào ăn kem ở tiệm Blanche Neige (kem Bạch Tuyết), Bờ Hồ hai lần. Hai ông bà nhìn nhau và cười với nhau ra vẻ âu yếm lắm. Khánh đã có thai, được chồng săn sóc nâng đỡ lên chiếc xe nhà Citroen, lúc ra về, còn đi một vòng quanh hồ Hoàn Kiếm. Trần Huyền Trân kể lại cảnh âu yếm đó cho Tuấn Trình nghe và kết luận:” Con Khánh nó cho cậu leo cây, cậu còn si nó làm gì nữa, thêm tủi nhục”.
Người đau khổ dĩ nhiên là Tuấn Trình, Thâm Tâm. Chàng yêu nhớ đơn phương với mặc cảm của một nghệ sĩ nghèo bị người yêu bỏ rơi, lại còn bị mấy thằng bạn trẻ chế nhạo đùa bỡn, nhất là Vũ Trọng Can.

Vì một chút tự ái văn nghệ, đối với mấy người kia, Tuấn Trình đã phải thức một đêm, theo lời anh, làm một bài thơ đề là “Hai Sắc Hoa Ti Gôn” ký T.T.KH, với thâm ý để Trần Huyền Trân và Vũ Trọng Can tin là của Khánh làm, để thương tiếc mối tình tan vỡ. Muốn giữ tính cách bí mật, Tuấn Trình dán kín bao thư rồi nhờ cô em họ, con gái của người cô ở phố Cửa Nam, mang thư đến tòa báo. Cũng chính cô em họ đó đã chép giùm bài thơ với nét chữ con gái dịu dàng của cô, để khỏi bị nghi ngờ. Cho nên giọng thơ hoàn toàn là giọng thơ lãng mạn của Tuấn Trình, và lời thơ khác hẳn những lời tâm sự trong bức thư cuối cùng của KH, báo tin sắp lấy chồng.
Cô Khánh không biết làm thơ. Cô chưa bao giờ làm thơ cả! Và cô ghét những bài thơ của Thâm Tâm nữa là khác. Tuấn Trình đã nói quả quyết với tôi như vậy, sau khi nhận được một bức thư của Khánh, bức thư cuối cùng, tỏ ý không bằng lòng anh mượn tên cô để làm thơ kể chuyện tình duyên cũ, có thể làm hại đến cuộc đời của cô. Trong thư phản đối đó, Khánh xưngtôi, chứ không xưng em như những thư trước, để chấm dứt trò chơi vô ích ấy. Thâm Tâm lấy những lời nghiêm khắc giận dữ của người yêu cũ để làm ra “Bài Thơ Cuối Cùng” 
Trách Ai mang cánh ti gôn ấy
 Mà viết tình xưa Được Ích Gì?
  Bài Thơ đan áo nay Rao Bán
Cho Khắp Người đời thóc mách xem
 Là Giết Đời nhau đấy, Biết Không?
  Dưới dàn hoa máu, tiếng mưa rung
 Giận anh tôi viết dư dòng lệ
 Là chút dư hương điệu cuối cùng
 Từ nay anh hãy Bán Thơ Anh
 Và Để Yên Tôi với một mình
  Những cánh hoa lòng, Hừ Đã Bỏ
 Còn đem mà Đổi Lấy Hư Vinh.
 
Cô Khánh “Trách” người cũ không những đem chuyện tình xưa ra viết chẳng “Được Ích Gì” lại còn làm Bài Thơ đi “Rao Bán” cho người đời “Thóc Mách” mua xem. Như thế là Anh “Giết Đời Tôi anh Có Biết Không?” Anh đem bán thơ để kiếm chút “Hư Vinh” nhưng chuyện xưa đã bỏ rồi, anh hãy để tôi yên!... 

Thâm Tâm lấy gần hết chữ và nghĩa trong bức thư đoạn tuyệt tàn nhẫn của Trần Thị Khánh làm Bài Thơ Cuối Cùng đó mà vẫn ký T.T.Kh, một lần cuối cùng. Rồi, để đáp lại, chàng làm một bài ký tên Thâm Tâm và cũng là bài cuối cùng, mỉa mai, chua chát: ...
Đây Bài Thơ Chót Kính Dâng Tặng Bạn
 Và thành chúc đời em luôn tươi sáng
  Như mộng kiều đầm ấm tuổi xuân xanh
 Như hương trinh bát ngát dịu dàng
 Hoa nhạc mới triều dâng tơ Hạnh Phúc... 

Trên phương diện văn thơ cũng như tình cảm, ta chỉ thương hại Thâm Tâm, nhà thơ trẻ, hãy còn ngây thơ với tuổi 19, đầy thơ mộng, cứ tưởng rằng cô Khánh vẫn thành thật yêu chàng, rằng cô bị cha mẹ ép gả cho một “ông già”, nhưng cô vẫn giữ mối tình thiêng liêng chung thủy với người nghệ sĩ tài hoa. Cho nên tưởng làm vui lòng người yêu, chàng lấy tên nàng để ký dưới bài thơ thương tiếc, với những câu tình tứ như:
  Từ đấy thu rồi thu lại thu
 Lòng tôi còn giá đến bao giờ?
  Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ
  Người ấy cho nên vẫn hững hờ
  Nếu biết rằng tôi đã lấy chồng
 Trời ơi người ấy có buồn không?
 Có thầm nghĩ tới loài hoa vỡ
 Tựa trái tim phai, tựa máu hồng

– Cho tôi ép nốt dòng dư lệ
– Nhỏ xuống thành thơ khóc chút duyên. 

Nhưng chàng thi sĩ có ngờ đâu không những cô Khánh không hề tỏ chút gì cảm động vì mối tình đau khổ, thủy chung của chàng, hoặc cảm ơn những bài thơ an ủi của chàng, mà trái lại cô còn gởi một bức thư vô cùng tàn nhẫn hằn học nào là “Anh giết đời tôi, anh biết không?” nào là anh mang chuyện cũ ra viết “chẳng ích gì”, cô lại còn tỏ ý khinh rẻ: “Từ nay anh cứ đem thơ anh bán rao để kiếm chút hư vinh, nhưng anh hãy để tôi yên” v.v...
Bấy giờ Thâm Tâm mới thức tỉnh, tìm lời bào chữa cho mình! Nào là: ...Anh biết cái gì xưa đã chết – Anh càng buồn, càng muốn viết thành thơ– Nhưng thôi: Mộng đang xanh, mộng hóa bơ phờ – Đây bài thơ chót kính dâng tặng bạn. Thâm Tâm tự hạ mình viết kính dâng tặng bạn có ý xin lỗi chua chát người không phải là người yêu của mình nữa, và chàng đã viết: Chim muốn bay, cũng giữ chẳng được nào!(Nàng đã không muốn yêu nữa, thì giữ làm sao được?). Và: Có gì đâu, khi bướm muốn xa cành !.


Thâm Tâm không những đã tỉnh ngộ, mà lại còn uất hận vì thái độ khinh bạc của cô Khánh:...Chiều nay lạnh, có nhiều sương rơi quá – Nhưng lòng Anh đã Bình Thản lại rồi – Hết đau buồn và cảm thấy sục sôi – Niềm Uất Hận của một thời lạc lối – Lấy nghệ thuật làm trò hề múa rối – Đem tài hoa cung phụng sóng mắt huyền – Để khẩn cầu xin một nụ cười duyên. 

Thâm Tâm tự thú nhận: Lấy nghệ thuật văn thơ để làm trò hề múa rối, (vì sự thật chẳng có gì cả) trong mấy bài thơ ký tên T.T.KH với mục đích “Đem tài hoa cung phụng sóng mắt huyền, để khẩn cầu xin một nụ cười duyên”. Để rồi, mai mỉa thay, nhận những lời khinh khi ngạo mạn, và hằn học của nàng. Đó là “niềm uất hận” của Tuấn Trình trong một thời “lạc lối” (lầm đường lạc lối). Nhưng: Thôi em nhé, từ đây anh cất bước – Em yên lòng vui hưởng cuộc đời vui... Chàng hứa chấm dứt trò hề múa rối về văn thơ. Và nàng không mong gì hơn. 

Để tôn trọng thực tế những sự kiện đã qua trong lịch sử hay trong văn học, để đừng xuyên tạc những chuyện không có, phải nói ngay rằng tên T.T.KH. không hề gợi một dư luận nào “xôn xao” ở thời tiền chiến, và cuộc tình duyên của Tuấn Trình (Thâm Tâm) với cô Trần Thị Khánh không hề gây một xúc động nào về tâm lý cũng như về văn chương trong giới văn nghệ và giới trẻ thời bấy giờ. 

Tôi chắc rằng những nhà văn thơ tiền chiến ở Hà Nội hiện còn sống tại Sài-Gòn, như các anh Vi Huyền Đắc, Lê Tràng Kiều, Tchya, Vũ Bằng...(cả các anh Nhất Linh và Lê Văn Trương vừa tạ thế mấy năm trước) đều phải hết sức ngạc nhiên thấy một vài người của thế hệ hậu chiến ở Sài-Gòn bỗng dưng tôn sùng ba tên T.T.KH thành một thần tượng và biến mối tình rất tầm thường, có thể nói là quá tầm thường của cô học trò cũ trường tiểu học Sinh-Từ, thành một thảm kịch của tình yêu.

Nguyễn Nhược Pháp, nhà ở gần nhà cô Khánh, chỉ cách năm, sáu căn, mà cũng không hề nghe nói đến cô này, và cũng không biết một tí gì về mối tình của một họa sĩ kiêm thi sĩ Tuấn Trình hay Thâm Tâm, xảy ra cùng dãy phố với anh. 

Cũng như người đàn bà tên Mộng Cầm, hiện là vợ một giáo chức ở Phan Rang, đã phủ nhận những chuyện người ta thêu dệt về mối tình bạn của bà, lúc còn là nữ y tá, với thi sĩ Hàn Mặc Tử :” Tôi không thể yêu được một người bị bệnh cùi !” Bà Mộng Cầm đã thẳng thắn nói thế, không thể trách bà được.
-Nguyễn Vỹ-


 PHỐ THÁNG TƯ





PHỐ THÁNG TƯ
                   Viết thay một người. http://honghiaphuong.blogspot.com

phố vào hạ rắc từng chiếc lá
nhuộm vàng phai đường rộng nắng gay
tà áo dài theo gió tung bay
chiều tan sở ta chờ em trước ngõ

kỉ niệm xưa mềm như mắt cỏ
giấu vào đâu ngăn chứa nỗi lòng
ta ước gì đặt nhẹ môi hôn
em e thẹn lắc đầu không nói

nắng hạ về sao người vẫn hỏi?
bằng lăng ơi, tím biếc nửa chiều
nhìn lên trời tìm bóng mây yêu
tầng mây nõn lửng lơ về chốn cũ

tháng tư trở mùa gió thả lời ru
dòng sông ưu tư bãi bờ khát nước
cánh cò bay giữa đồng xanh óng mượt
lúa non rùng mình cành lá vươn lên

khúc giao mùa ai nỡ bắt đền!
mới đầu hạ nên phượng hồng chưa nở
ta yêu em khoảng trời xa rộng mở
thương một người cuối phố khóc chiều nay!.
                                  

Thứ Năm, 18 tháng 4, 2013

Không hối tiếc

Cuộc sống cứ lặng lẽ trôi, trôi xuôi theo cái ồn ào của một xã hội. Có sự cao sang giầu có, để nặng lòng với nỗi lo âu của tiền bac. Hay sự thắt đau của cơm áo, gạo tiền của những kiếp sống nghèo khó, cùng quẫn. gom lại chăng cũng chỉ là một cuộc sống, rồi khi cái ấm của hơi thờ tắt dần. Ta biết sao khi làm cái lạnh buốt của cơ thể, ta muốn đốt ấm lại nữa, nhưng mà đốt thì sẽ cháy nóng khét mà chẳng ấm được đâu. Có quay về với chính tâm hồn, chợt tìm nơi bình an, có dễ không. Không ai sống với tâm hồn mà chẳng cần cơ thể, cuộc sống quanh mình cả. Ngậm nghĩ giản đơn, đời tu cũng vậy. Tìm nơi bình an trong Người, nhưng sao vô vàn quá. Ừ mình không phải sống cho Người, mà cũng chẳng được riêng cho mình mà cho tha nhân nữa. Như lời Đức Cha Stephano Tri Bửu Thiên " Đời tin yêu đâu thiếu những đắng cay". Sự đắng cay, tham sâu trong hồn, chua chát với miệng lời nhân gian. Chịu đừng rồi dần là chai lì trong cõi lòng những người: Một thời đã đi qua.

KHÔNG HỐI TIẾC .Trích tác phẩm dự thi GIẢI VĂN ĐƯỜNG TRƯỜNG Mã số 13-004

Má nhìn ra bầu trời đục ngầu, thở dài nói, không biết mùa mưa năm nay kéo dài bao lâu. Tôi nao lòng chờ đợi cơn mưa đầu mùa. Lâu lắm tôi chưa được thấy mưa ở thôn quê, ở nhà mình. Nghe mưa rào rạt ở xa, rồi mưa thả từng tiếng lách tách trên mái tôn, rồi mưa ào ào chảy thành từng dòng xuống, mưa lặng lẽ đi vào lòng đất. Trong tiếng mưa rền rĩ dội xuống mái tôn, tôi nghe tiếng chuông leng keng của người bán kem. Tiếng chuông nhỏ dần theo độ lớn của hạt mưa một lúc rồi ngưng bặt. Má nhìn người đàn ông với chiếc xe kem buồn teo, cái chuông không buồn lắc, khẽ chép miệng “Ngày trước ổng là thầy tu”. Câu nói của má đội nón đi ra cái quán xiêu té trước nhà. Cái quán bỏ không đó vẫn làm chổ trú mưa núp nắng cho những người qua đường. Chiều nay quán nhỏ đón người bán kem. Người bán kem day cái lưng buồn tênh về phía tôi, đôi mắt chắc đang ngắm bầu trời đầy nước. Mưa đầu mùa vẫn chưa thấm chưa lạnh, phải đến lúc dầm dề mới buốt cắt da thịt người. Tôi giấu những ý nghĩ mông lung trong lòng, không biết chiều nay số kem đó ra làm sao, không biết ông bán kem làm gì khi mưa vô mùa day diết?
Ba má tôi (cũng như nhiều người khác ở cái vùng quê còn nhiều hủ tục này) không mấy thiện cảm với người xuất tu. Có lẽ trong mắt mọi người, họ phải mang một gánh nặng vô hình, một món nợ không thể trả. Má tôi còn mạnh miệng “Ăn cơm của Chúa mà còn hai lòng…”. Tôi dằn đôi đũa xuống chén cơm, thấy nghẹn ngào dâng lên đầy ứ trong cổ họng. Người đời thích lên án nhau, còn Chúa nào có lên án ai. Chúa chỉ có yêu thương và tha thứ.
Vợ chồng chú Tâm mới dọn về đây. Hai vợ chồng ở trong căn nhà cũ, rách nát ở cuối xóm. Chú mới về hôm trước, hôm sau xách giỏ đi chợ đã có người nhìn mặt thảng thốt hỏi “Ủa, ông thầy hồi trước đi tu ngoài Huế mà, phải hôn?”. Cái gật đầu của chú làm mấy người giật nẩy, có người còn la lên: “Trời đất ơi, sao vậy nè?”. Chú chỉ cười, cười để tránh trả lời những câu hỏi khó, như hồi bữa đang lui cui vo gạo dưới bếp, vợ chú nhìn da diết tấm lưng chồng, hỏi: “Tâm xuất tu để lấy em, Tâm có hối hận không?”…
Trời mưa kéo dài ngày này qua ngày khác. Ban sáng còn ửng mấy chùm nắng, chiều đến trời kéo đầy những đám mây thâm u. Tôi lững thững lội nước đi về cuối xóm. Tôi có ý ghé thăm vợ chồng chú một lúc trước khi ra lại chủng viện, nhưng rồi lại nghĩ, có phải mình đang vô ý khơi lại vết thương đã lành (hay chưa lành, tôi cũng không biết). Hoặc không có vết thương nào hết, vì đó là một lựa chọn không làm chú hối tiếc. “Chú không hối hận vì đã xuất tu”. Chú trả lời, mặc dù tôi không hỏi, mà có thể ánh mắt tôi, thái độ của tôi đã hỏi thay. Cuối cùng tôi cũng đã ngồi trên cái giường tre trước hiên nhà. Chú thấy tôi lấp ló ngoài hàng bông bụt đỏ, chú kêu vô chơi. Câu nói của chú nghe ấm áp vững vàng. Chú nói câu ấy còn giành cho vợ chú. Vợ chú bệnh quanh năm, gầy rạc dán mình trên chõng, đôi mắt sáng dịu dàng trên khuôn mặt dễ nhìn. Vợ chú cười nói: “Cố gắng nghen con, đừng như chú Tâm, khổ lắm”. Câu nói của thím bay về phía chú Tâm, chú quay lại cười.
Thỉnh thoảng tôi nhớ lại câu nói của chú tâm chiều hôm đó. Tôi định hỏi, sống khổ vậy mà không hối hận ư, nhưng một ý nghĩ khác xuất hiện trong đầu, ủa, vậy là mình đi tu vì sợ khổ sao?
Người đời (và đôi khi cả người trong cuộc) gắn cho họ cái mác “Dân tu xuất”. Mỗi lần nhắc đến họ thì đều nhắc đến cái sự “từng đi tu” của họ, mặc dù nay họ đã là ông nọ bà kia, hay cả đời chỉ là ông bán kem như chú Tâm. Ra đời, nếu thành đạt và hạnh phúc (điều này thật khó đo lường) thì thôi. Còn nếu gặp khó khăn đau khổ thì đành phải chịu miệng lưỡi thiên hạ. Nhiều khi đời đã quên, đời đã không còn nhắc gì tới, nhưng họ lại tự coi cuộc sống như một kiếp đọa đày. Bạn cũ của ba tôi nói “Cuộc sống cực hết chổ nói, nhưng phải sống để trả nợ, anh à”. Hai cha con tôi nhìn mãi chiếc xích lô cũ kĩ ọt ẹt chen lánh giữa lòng phố thị. Trên chiếc xe đó, có người đang vật lộn với cuộc sống để kiếm miếng cơm, để lo cho đàn con nheo nhóc. Người đó cũng từng đi tu.
Tôi gọi cho anh bạn, hỏi hồi bữa mới ra khỏi dòng tu anh thấy sao? Câu hỏi vô duyên vô chừng của tôi làm anh im lặng một lúc, chỉ nghe đầu dây tiếng nuốt nước bọt nhẹ trong cổ. Hồi lâu anh nói “Lúc xách đồ ra khỏi chủng viện, anh không thấy đường đi”. Tôi mường tượng ra con đường chênh chao trước mắt anh. Những hình ảnh tươi rói hiện về chập chờn trước mặt. Con đường nhòe nhoẹt hay nước mắt đã ngập tràn đôi mắt? Bước ra khỏi cánh cổng đó có thể đôi chân anh run rẩy muốn ngã quỵ. Anh sẽ mất nhiều cơ hội được gần gũi Chúa, được phục vụ Ngài. Anh sẽ không được vào căn phòng mà tối qua anh nằm ngủ, không được ngồi trên chiếc ghế ngáp ơi hời chờ hết tiết học … và không được nói “Dạ ,con đi tu”…
Chú Tâm nói hồi mới ra chú cực dữ lắm. Mẹ chú khóc ròng mấy tuần liền. Đi ra bếp, thấy mẹ ngồi trong bếp khóc. Đi qua cửa phòng, thấy mẹ nằm trong phòng khóc. Nghe ai nhắc đến cha nào đó, mẹ cũng khóc. Mẹ đau mẹ khóc, còn nỗi đau của chú lặn vào bên trong. Căn nhà buồn như có đám tang. Ba chú không thèm nhìn mặt chú. Còn gì đau khổ bằng khi sống trong nhà mà đã không còn là người trong nhà. Vết dao ba chú chém lên cột nhà như một lời thề vẫn chưa hao mòn “Nó mà ra khỏi nhà dòng thì không phải là con trong nhà này”. Ra ngõ mọi người xầm xì bàn tán, nói chú thế này thế kia. Đến nỗi vào nhà thờ mà lòng chú cũng không bình yên cầu nguyện. Có bữa khổ tâm quá chú cười hề hề, nói vài bữa con đẻ một bầy con, cho tụi nó đi tu hết. Câu nói chưa ra khỏi miệng đã nghe lòng xót xa.
Đứa con đầu lòng của chú mất khi mới sinh. Mẹ chú xách cái nón đi qua, ngó vô căn lều lụp xụp bên hè của vợ chồng chú xỉa xói “Đó, đã thấy sáng mắt ra chưa?”. Có lẽ vì câu nói này mà chú đem vợ đi khỏi quê, mỏi mòn tìm kiếm đến bạc nữa mái đầu mà vẫn chưa có thêm đứa con nào. Một hôm chú lưu lạc đến xóm tôi …
Hai năm sau tôi có dịp ghé thăm chú. Bữa đó nắng chiều hắt hết mái hiên mà trong nhà vẫn tối. Chú nắm còng queo trên chiếc chõng vợ chú từng nằm. Thấy tôi chú gượng ngồi dậy, đắp hờ chiếc áo ấm trên thân thể gầy guộc. Tôi nhìn chú mệt mỏi tiều tụy, như chú được đắp nên từ những nỗi đau. Bữa đó chú cũng nói câu mà tôi đã nghe cách đây hai năm “Chú không hối hận”.
Người đi tu rồi xuất cũng nhiều, nhưng không biết mấy ai dám nói như chú. Tôi không lý giải được, nhưng tôi tin lời chú nói

Xe gắn máy tại miền Nam trước 75


Xe gắn máy tại miền Nam trước 75

http://www.angelfire.com/zine2/risingsun/Literature/XeGanMay.html
http://minhduc7.blogspot.com/2010/07/xe-gan-may-tai-mien-nam-truoc-75.html
 

Phi Long





Có thể nói xe đạp và xe gắn máy là phương tiện di chuyển chiếm đa số tại miền Nam trước 1975 và cho đến nay, xe gắn máy vẫn là phương tiện di chuyển được nhiều người sử dụng nhất . Bài này xin nhắc lại một số xe gắn máy đã hiện diện tại miền Nam trước 1975.
 

Nói đến xe gắn máy thì chắc là mọi người sống tại miền Nam trước đây đều biết đến xe Mobilette. Vì Việt Nam là thuộc địa của Pháp nên hãng Motobécane của Pháp, chế tạo ra chiếc Mobylette, đương nhiên là hiện diện trên thị trường Việt Nam. Nhưng nhiều người biết đến tên Mobylette hơn là Motobécane. Xe Mobylette ở Việt Nam có loại Mobylette vàng và Mobylette xanh. Cả hai đều dùng động cơ 49,99cc để được xếp vào loại vélomoteur, không cần bằng lái, nhưng Mobylette vàng thì nhỏ hơn, chỉ có ống nhún phía trước, còn Mobylette xanh thì lớn, nặng hơn có ống nhún ở cả bánh trước lẫn bánh sau nên đi êm hơn và giá cao hơn .
 

Xe Mobilette xem chừng ra không thay đổi nhiều lắm qua nhiều năm. Xe Mobylette trong thập niên 1950 thân là những ống tuýp hàn lại. Qua thập niên 1960 thì thân làm bằng tôn ép. Màu sắc cũng ít thay đổi. Có lúc Mobylette vàng đổi thành Mobylette xám. Xe Mobylette được chế tạo để dễ sử dụng. Xe không cần sang số mà dùng embrayage automatique, vặn ga lớn thì xe chạy nhanh, vặn ga nhỏ lại thì xe chạy chậm và đứng lại. Khi muốn nổ máy thì chỉ cần đạp cho nhanh là xe nổ máy. Đạp hoài không nổ thì chỉ gần gạt môt cái chốt ở đĩa có dây couroie ăn vào động cơ để tách rời động cơ và bánh sau thì có thể đạp bộ về nhà.
 

Mobylette vàng 1956


Mobylette vàng 1962


 Mobilette xám, 1967

 Mobylette xanh


Nếu có khi nào trong lúc bạn đạp xe đạp rồi nghĩ bụng sao không gắn một cái động cơ nhỏ lên xe đạp để khỏi phải đạp thì ý nghĩ đó đã có người nghĩ đến và chế tạo ra chiếc Vélosolex. Xe Vélosolex là một chiếc xe đạp có gắn động cơ lên bánh trước. Động cơ này làm lăn một cục đá tròn phía dưới . Khi người lái kéo cái cần trước mặt thì cục đá dở hổng lên khỏi bánh trước và có thể đạp như xe đạp. Khi đạp đến một tốc độ nào đó, hạ cần xuống thì tốc độ của xe làm cho động cơ nổ máy và động cơ kéo chiếc xe đi bằng bánh trước. Khi xe đã chạy ngon trớn thì người lái có thể rút chân lên miếng để chân nhỏ ở giữa xe mà ngồi một cách thoải mái. Từ một ý kiến rất giản dị phát xuất giữa thế kỷ 20, xe Vélosolex vẫn còn tồn tại qua đến đầu thế kỷ 21.

Vì cách sử dụng giản dị, trọng lượng nhẹ nhàng nên các xe Mobylette, Vélosolex thông dụng trong giới sinh viên, học sinh và phái nữ.
 

  



Ở một hạng cao hơn là các xe scooter của Ý: Vespa, Lambretta. Các xe scooter này vì lòng máy lớn hơn 50 cc, nhỏ nhất là 125 cc hoặc 150 cc hoặc 200 cc tùy theo kiểu, nên không còn được xếp vào loại vélomoteur. Người sử dụng phải trên 18 tuổi và phải có bằng lái. Vì thế, những người đi xe Vespa, Lambretta thường là ở tuổi trung niên và có đời sống cũng tương đối khá vì xe scooter đắt hơn. Xe Vespa hàng chục năm nay không thay đổi mấy. Thân xe làm băng tôn ép. Có lẽ vì thế nên làm hình tròn như quả trứng để chịu lực tốt hơn. Máy được đặt ở chỗ phình bên phải, còn bên trái là ngăn để chứa đồ. Vì thế xe Vespa khi chạy hơi nghiêng về phía phải vì bên này nặng hơn. Xe Lambretta tuy trông bề ngoài giống Vespa nhưng cấu tạo lại khác. Khung xe bằng ống sắt hàn lại, máy đặt ở giữa khung và che bên ngoài bằng lớp vỏ sắt. Xe Lambretta hồi đâu thập niên 1960 có đường nét cong. Cuối thập niên 60, qua đầu thập niên 70 thì kiểu dáng thẳng, theo như mốt của thời đó, nên trông thanh nhã. Cả hai đều sang số bằng tay, bóp embrayage vào và vặn để đổi số.
Velosolex


Vespa 1963


Lambretta 1962




Từ cuối thập niên 1950, miền Nam cũng nhập cảng các xe gắn máy Đức như Goebel, Sachs, Puch. Các xe này đều có chung đặc điểm là có bình xăng đặt trước người lái, sang số bằng tay, có ống nhún cả trước lẫn sau, và máy đều là 50cc để được xếp vào loại vélomoteur, không cần bằng lái. Mỗi xe lại có những đặc điểm riêng như máy xe Puch luôn luôn được bọc trong lớp vỏ bằng nhôm, có quạt chạy để làm mát. Như thế có lợi điểm là máy xe được làm mát ngay cả khi ngừng đèn đỏ. Vì là xe có sang số nên tuy chỉ có 50cc, xe gắn máy Đức có sức kéo mạnh hơn các xe Mobylette ở số 1, 2, nên cũng được dùng để kéo xe lôi, có thể kéo được thêm được bốn năm hành khách và hàng hóa phía sau. Hãng Puch và Sachs ngày nay vẫn còn tồn tại.


Lambretta 1966


Goebel 1965
Puch 1964

Sachs 1961
Fips, máy Sachs, 1955




Vào khoảng 1965 thì thấy nhắc đến tên Honda, với một số kiểu xe mới lạ xuất hiện. Một số xe Honda đầu tiên do người Mỹ mua đem sang Việt Nam để đi làm việc rồi khi họ về nước thì để lại, lọt ra ngoài thị trường người Việt mua được. Một trong những công dụng của xe Honda là các phi công Mỹ dùng để di chuyển giữa chỗ đậu phi cơ và doanh trại. Từ doanh trại ra chỗ đậu thường xa, đi bộ cũng mất vài phút đến vài chục phút. Có xe Honda phóng thì thu ngắn thời gian nhất là khi có báo động thì phóng xe Honda ra máy bay nhanh hơn là chạy bộ. Xe Honda S90 có lẽ là chiếc được ưa chuộng nhất trong số các xe Honda trước 1965 vì kiểu đẹp và máy mạnh, tiếng nổ ròn. Các kiểu xe kia là C110, S65 (thường được gọi là S50), P50, C50. Xe P50 có cấu tạo đặc biệt với máy nằm ở sát bánh sau và truyền động thẳng vào bánh chứ không qua dây xích. Cách đặt máy này có lợi là khỏi bị mất lực khi truyền qua dây xích và giảm bớt số bộ phận nhưng có khuyết điểm là xe dễ bị mất thăng bằng vì đầu nhẹ, đuôi nặng. Lại thêm khi đi xuống ổ gà vì không có ống nhún nên sức va chạm có thể làm vỡ răng cưa ở vành bánh xe. Xe Honda dame C50 trước 1965 có chiếc đã có bộ đề bằng điện, khỏi cần đạp. Trong khi chiếc Honda dame nhập cảng hàng loạt sau này phải đạp máy nổ bằng chân.
 


Honda S90 1967
Honda S65 1964


Honda C110 1964

Honda P50, 1964

Chiếc xe Honda được chính thức nhập cảng để bán cho người tiêu thụ là xe Honda Dame năm 1965. Hãng Honda thì gọi là kiểu C50, nhưng mọi người thường gọi là Honda Dame. Có Honda Dame nhưng không ai gọi Honda Homme, mà gọi là Honda đàn ông. Những chiếc xe Honda Dame đầu tiên xuất hiện tại Sài Gòn thu hút được sự chú ý của người đi đường. Những ngày đầu tiên xe bán ra ngoài, trên các nẻo đường phố người ta nhìn thấy các chiếc xe Honda Dame màu đỏ hay xanh lá cây nhạt. Có người bị tắt máy xe, hý hoáy nhìn xuống chân vì chưa quen với cách sang số bằng chân. Sang lộn số có thể làm xe tắt máy. Khi thấy có một số người dắt xe Honda đi bên đường, có người nói hãng Motobécane của Mobilette thuê người dắt xe Honda Dame đi khắp các đường phố để người dân thấy xe Nhật dở, bị chết máy hoài, sợ không dám mua. Không biết là có đúng hay không. Một số người lúc đó nói là hàng Nhật không bền, chỉ vài năm là hỏng và tiên đoán rằng chừng năm mười nữa thì các xe gắn máy Pháp, Đức vẫn còn chạy, còn xe Nhật thì lúc đó vứt đi. Những người đó có lẽ căn cứ vào phẩm chất hàng hóa của Nhật trước thập niên 1960. Nhưng qua thập niên 1960, các hãng xe gắn máy Nhật đã trải qua những năm cạnh tranh khốc liệt trong nước. Vào đầu thập niên 1960, nhiều hãng xe gắn máy ào ạt ra đời tại Nhật, cuối cùng theo luật thư hùng đào thải chỉ có những hãng có khả năng cải tiến mới sống còn. Lúc xe Nhật sang Việt Nam cũng là lúc các hãng xe gắn máy Nhật bắt đầu tung ra thế giới với nhiều cải tiến làm cho phẩm chất xe Nhật vượt hẳn các xe Tây phương.
Honda Dame C50 1965


Xe Honda Dame được làm để cho phái nữ đi nên dùng ambrayage tự động, khi sang số chân không cần phải bóp embrayage tay mà chỉ cần giảm ga. Các hiệu xe Suzuki Dame, Yamaha Dame cũng giống thế. Còn các xe gắn máy Nhật kiểu đàn ông được vẽ kiểu giống như những chiếc mô tô phân khối lớn ở chỗ không có pédale mà có cần đạp cho nổ máy, hai bên có thanh ngang để chân, bên phải là thắng chân, bên trái là cần sang số, embrayage tay trái, thắng trước tay phải, bình xăng phía trước. Các xe này còn giống mô tô ở chỗ hai bên bình xăng có hai miếng cao su để đầu gối áp vào cho êm. Điều đáng kể là yên xe thấp vừa với chiều cao người Á Châu khiến cho việc leo lên xe, chống xe dễ dàng hơn khi sử dụng các xe gắn máy Tây phương. Tay ga vặn nhẹ nhàng chứ không nặng như xe Tây phương. Máy đạp nhẹ nhàng và dễ nổ.  Nói tóm lại, các nhà chế tạo Nhật khiến cho các chiếc xe gắn máy sử dụng dễ dàng, tiện nghi hơn khiến cho người dùng thấy rất thoải mái khi đi xe.

Sau chiếc xe Honda Dame là sự xuất hiện của Honda đàn ông 66 (SS50). SS là chữ viết tắt của Super Sport. Chiếc Honda 66 xuất hiện vào năm 1966, với màu đỏ hay đen, tay lái ngắn ngủn để người lái thu hẹp khoảng cách hai tay, giảm tiết diện cản gió, xe không có đèn signal, hộp số có năm số và có thể đạt đến tốc độ tối đa đáng nể là 90km/giờ đối với một chiếc xe máy 50 cc. Đó là một chiếc xe được vẽ kiểu với các đặc tính của xe đua. Tuy nhiên chiếc xe này không tiện dụng trong thành phố vì tay lái quá ngắn nên khó điều khiển. Sang năm 1967, Honda sửa lại kiểu xe cho tay lái rộng hơn, hộp số có bốn số, sơn đen hoặc đỏ, có đèn signal, ống nhún trước có bọc cao su, tốc độ tối đa 90k/giờ. Kiểu xe 67 (SS50) đã đi vào lịch sử vì máy mạnh, chạy nhanh, được nhiều người ưa chuộng và có lẽ là được sử dụng nhiều nhất tại miền Nam cùng với xe Honda Dame. Về sau Honda có ra các kiểu khác nhưng Honda 67 vẫn được nhiều người biết đến nhất. Vì máy mạnh nên chiếc Honda 67 được dùng để kéo xe lôi thay cho các hiệu xe Đức trước đây.
 

Honda SS50 1966, tay lái 67

 Honda SS50, 1966, tay lái original



Honda SS50 1967


Cả tứ đại gia của làng xe gắn máy Nhật, Honda, Yamaha, Suzuki, Kawasaki đều có mặt tại miền Nam lúc đó. Hãng Suzuki tung ra kiểu xe nam M15 và M12 và xe Suzuki Dame, M31. Hai kiểu xe nam đại khái giống nhau, dùng cùng một động cơ nhưng kiểu thể thao có ống pô vắt cao và vè trước ngắn để trông có vẻ thể thao hơn.


Suzuki M12 1967
Suzuki M15 1967

Hãng Yamaha có hai kiểu xe đàn ông, trong đó có kiểu YF5, và một kiểu Yamaha Dame. Xe Yamaha đàn ông kiểu đẹp, nhiều bộ phận xi bóng loáng. Yamaha Dame sơn màu xanh da trời, với đường cong dịu dàng, trông rất mỹ thuật. Các xe Yamaha xem ra không được ưa chuộng bằng Honda vì máy không mạnh bằng.

 Suzuki Dame M31 1967


Yamaha nam kiểu thể thao YF50, 1967

Yamaha nam F5, 1970








Xe Suzuki Dame và Yamaha Dame đèn trước thấp hơn xe Honda Dame, trông vẻ nhu mì thích hợp với các cô mặc áo dài.



Kawasaki là hãng nhỏ nhất trong các hãng xe Nhật lúc đó, chỉ đưa sang một kiểu xe đàn ông. Xe Kawasaki chạy tuy tốt nhưng bị chê là nặng và máy yếu. Xe Kawasaki đem sang Việt Nam là kiểu dùng sườn của xe 80 cc, thay vào đó bằng động cơ 50 cc để được xếp vào loại vélomoteur, không cần bằng lái.


Hiệu xe ít người nhớ đến có lẽ là Bridgestone. Bridgestone là hãng chuyên chế tạo vỏ bánh xe nhưng lúc đó cũng có một phân bộ chuyên sản xuất xe mô tô để đua. Kiểu Bridgestone đem sang Việt Nam năm 1966 có máy 65 cc. Vì thế xe Bridgestone vọt rất mạnh. Đặc điểm của Bridgestone là hộp số có bốn số quay vòng giống như các xe đua, nghĩa là sang đến số bốn thì nhấn thêm sẽ trở về số một mà không phải trả số ngược lại. Xe Bridgestone chìm vào quên lãng của người Việt khi phân bộ xe mô tô của hãng đóng cửa năm 1967 vì lý do là nếu sản xuất xe đua thì các hãng xe gắn máy Nhật khác không muốn mua vỏ xe của hãng kình địch với mình trong các cuộc đua.
 Yamaha Dame U5 1966
 Kawasaki M10 1966


Bridgestone 65 1966
Bridgestone 65 kiểu thể thao 1966
Không như các hãng xe châu Âu giữ các kiểu xe y nguyên nhiều năm, các hãng Nhật ào ạt tấn công thị trường Việt Nam với các kiểu xe mới ra mỗi năm. Qua 1968, Honda tung ra xe CL50. CL là chữ viết  tắt của Scrambler. Đó là kiểu xe được chế tạo để chạy các đường đất lồi lõm nên chỉ có bốn số, xe kéo mạnh ở số một và số hai, nhưng tốc độ tối đa kém xe Honda 67. Ống pô vắt cao để khỏi va chạm vào mô đất hay ngập nước. Qua 1969, Honda tung ra kiểu SS50M. Cũng dùng cùng máy và sườn như xe Honda 67 nhưng bình xăng dài hơn cho có vẻ thể thao. Qua năm 1970, Honda đưa sang kiểu CD50. Xe này cũng dùng cùng loại sườn và động cơ như SS50 nhưng bình xăng và hộp đựng đồ phụ tùng vẽ kiểu khác nên trông bề ngoài khác hẳn. Xe được chế tạo để chạy trong thành phố nên chỉ có bốn số với các số đầu kéo mạnh, thích hợp với cách chạy xe trong thành phố phải luôn luôn dừng lại đèn đỏ rồi lại bắt đầu vọt lên. Cùng là kiểu SS50E, đến 1971, 1972, Honda tung ra kiểu xe với sơn đỏ metal và vè xi bóng, ghi đông cao kiểu sừng bò trông rất hấp dẫn. Honda thay đổi hình dáng bề ngoài thu hút thêm khách hàng mới. Năm 1969, Suzuki cũng tung ra kiểu xe mới AS50 trông rất thể thao và rất đẹp. Ngoài các kiểu xe Honda chính thức nhập cảng, trên đường phố Sài Gòn thỉnh thoảng xuất hiện một số kiểu xe Honda lạ như Honda Monkey, nhỏ xíu như xe con nít, hoặc Honda CT50, CT70, với chữ T là viết tắt của Trail, loại xe Honda dùng để đi dạo chơi ở đồng quê, trên các đường mòn nhưng tại Việt Nam trở thành phương tiện để đi học, đi làm tuốt luốt. 

Honda CL50, 1968


Honda CL50, 1968



Honda CD50, 1970, pô nằm original, vè trước vè sau cùng màu với thân xe

 Honda SS50lM 1969

Trong tất cả các loại xe Nhật, chỉ có Honda là dùng loại động cơ bốn thì, với xăng và nhớt chứa riêng còn các hãng kia dùng loại động cơ hai thì, chạy xăng pha nhớt.
 Suzuki AS50 1970

 Honda CT70 1970

Honda Monkey 1970



Với các đủ loại xe tung vào thị trường, đường phố miền Nam trở nên nhộn nhịp với các loại xe đủ màu sắc. Đường phố Sài Gòn náo nhiệt với các coureurs cúi rạp trên con ngựa sắt ra sức phóng, lạng, máy nổ ròn, đinh tai nhức óc. Đúng ra máy xe Honda chạy rất êm. Nhưng vì nhiều người đã tháo bỏ ốm tiêu hãm thanh gắn ở đầu ống khói nên máy nổ lớn. Ống này nhỏ như ống tiêu, với thân có đục nhiều lỗ, dài khoảng gang tay. Chỉ cần tháo con vít nhỏ ở đầu ống khói là kéo ông tiêu ra được. Lý do tháo ốm hãm thanh là vì người dùng thấy xe chạy vọt hơn.


Sài Gòn nhiều xe hơn và cũng nguy hiểm hơn vì các xe Nhật đều chạy nhanh, vọt mạnh. Vì thế, một số phụ huynh lo ngại không muốn  mua cho con mình chiếc xe quá mạnh. Hãng Honda tung ra loại xe PC50, cũng dùng động cơ 50 cc nhưng không cần sang số, và không vọt mạnh như các loại xe có sang số. Tốc độ khi chạy nhanh cũng có thể đến 60 km/giờ. Xe PC50 là kiểu P50 cải tiến lại với động cơ đặt vào giữa cho xe được thăng bằng hơn và có nhún cả ở bánh trước lẫn bánh sau. Cách sử dụng xe PC50 cũng giản dị như xe Mobylette chỉ cần đạp nổ máy rồi vặn ga phóng đi.
 

Hãng Motobécane cũng tung ra kiểu xe Cady nhỏ nhắn thích hợp với giới học sinh. Cái tên Cady có lẽ từ chữ Cadet, cho biết đây là kiểu em út trong gia đình Motobécane. Tuy cũng dùng động cơ 50 cc nhưng xe chỉ chạy được tối đa 40km/giờ. Chạy chậm có vẻ là một khuyết điểm của xe cộ nhưng đây lại là ưu điểm vì nó là lý do để các bậc phụ huynh chọn mua xe cho con mình để được an tâm hơn. Với khuynh hướng design nhiều màu sắc vào đầu thập niên 1970, xe Cady lúc đầu sơn nâu, hay xám, về sau sơn các màu xanh đỏ vàng sặc sỡ. Cùng với sự xuất hiện của mini jupe, đường phố Sài Gòn thấy xuất hiện xe mini Cady với hai bánh xe nhỏ trông rất xinh xắn, đồng thời mini xe đạp cũng xuất hiện và các cô nữ sinh áo dài mini trông trẻ trung, tươi tắn tung tăng trên các loại xe mini đủ màu sắc.
 Honda PC 50 1970


 Motobécane Mini Cady 1972
Xa lộ Biên Hòa, ngày nay gọi là xa lộ Hà Nội, thời đó còn rất ít xe nên trở thành đường thử và đua xe gắn máy. Các loại xe gắn được đem ra chạy hết tốc độ vào giờ ít xe. Tuy không có tạp chí phê bình, điểm các loại xe gắn máy nhưng ưu khuyết điểm của các loại được truyền miệng rộng rãi. Các loại xe máy hai thì tuy có thể chạy nhanh nhưng khi chạy với tốc độ cao nhiều giờ thì máy bị yếu đi, vận tốc giảm đi. Chỉ trừ có xe Honda là được khen là càng nóng máy, càng chạy mạnh. Đúng ra chỉ có xe Honda sau 1965 mới chạy lâu không bị giảm tốc độ vì Honda cải tiến hệ thống phun nhớt, làm cho nhớt phun rất nhiều khiến cho khi máy nóng không bị sức ma sát làm giảm tốc độ. Còn các loại  Honda S65, C110, tuy có thể chạy được đến tốc độ hơn 100km/giờ nhưng khi nóng máy thì cũng bị chậm lại. 
Để tăng sức mạnh của xe, xi lanh được xoáy cho rộng thêm từ 50 cc thành ra 60 cc, 70 cc. Xe xoáy xi lanh chạy nhanh hơn, có thể đến hơn 100km/giờ nếu máy được chỉnh cho đúng.

Một trò chơi đánh cá thời đó của các yêng hùng xe gắn máy, gọi chệch từ chữ anh hùng vì đua xe là can đảm nhưng không phải là đáng khen, là lách dưới xe be. Xe be là xe kéo các xúc gỗ dài năm, bẩy mét. Một đầu khúc gỗ được cột vào xe vận tải phía trước, đầu phía sau gắn vào remorque sau, còn giữa xe vận tải và remorque sau không có gì ràng buộc. Chiều cao từ thân cây đến mặt đường chi hơn một mét. Các tay đua đánh cá xem ai dám lạng chui dưới gầm xe be từ bên này qua bên kia. Vì khoảng cách thấp nên không thể chạy thẳng đầu mà người lái phải lạng cho xe nghiêng đi thì mới đủ thấp mà chui qua. Nếu tính sai thời gian, người lạng có thể bị hai bánh sau chạy tới đụng và cán chết.
 

Xe gắn máy là phương tiện di chuyển, nhưng cũng là niềm say mê tốc độ của tuổi trẻ và sự hấp dẫn của màu sắc, kiểu dáng, tiếng nổ. Niềm say mê này đã ghi vào ký ức của nhiều người miền Nam lúc đó và tồn tại không phai nhạt với thời gian. Nó trở thành kỷ niệm đẹp mỗi khi nhớ lại giây phút dắt chiếc xe mới toanh đi về nhà và những ngày tháng rong ruổi trên những con ngựa sắt.
 


Honda Dame, Yamaha nam, Suzuki

Goebel, máy Sachs


Sachs, Lambro ba bánh

Honda SS50 1972, Honda Dame






__________________________________

Sưu tầm từ: http://www.blogger.com/blogger.g?blogID=7277839867339324959#editor/target=post;postID=5831543880597342545